SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ” NÂNG CAO KỸ NĂNG ĐỌC”

 

DSC04580

     SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

– Họ tên: Nguyễn Thanh Đạm

– Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1970    Giới tính: Nam

– Quê quán: Ấp Phước Tường A, xã Bình Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

– Trú quán: Ấp Hiếu Xuân, xã Hiếu Thành, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long

– Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hiếu Thành A

– Chức vụ chính quyền: Trưởng khối 4,5

– Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân sư phạm Tiểu học

– Học hàm, học vị, danh hiệu, giải thưởng: Không

Dạy tập đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở Tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với những người đi học. Đầu tiên các em phải học đọc, sau đó phải đọc để học tập và giúp các em chiếm lĩnh được ngôn ngữ dùng trong giao tiếp, ứng dụng nhiều trong học tập và cuộc sống. Nó tạo điều kiện để các em có khả năng tự học và tinh thần học tập suốt cuộc đời. Nó là kỹ năng không thể thiếu được của con người trong thời đại văn minh.

Đọc sẽ tác động tích cực tới khả năng phát triển ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng cho các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư duy và trừu tượng. Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn, nó bao gồm nhiệm vụ giáo dục và phát triển có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh. Tập đọc với tư cách là một phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học, có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu này, hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.

Với ý nghĩa quan trọng của phân môn Tập đọc và thực trạng về phương pháp Dạy -Học, Tập đọc ở các trường Tiểu học hiện nay, tôi mạnh dạn chọn phân môn Tập đọc để nghiên cứu và thể hiện trong việc đổi mới phương pháp Dạy – Học Tập đọc ở Tiểu học. Đó cũng là lí do tôi chọn đề tài “kinh nghiệm về việc “nâng cao kỹ năng đọc” cho học sinh lớp 5/1 trường Tiểu học Hiếu Thành A”.

– Tên giải pháp sáng kiến: Nâng cao kỹ năng đọc.

Do trình độ học sinh không đồng đều trong một lớp, có học sinh đọc đúng nhanh và diễn cảm nhưng không ít học sinh đọc còn chậm, ngắt nghỉ hơi chưa hợp lí, khi đọc

còn ngắt ngứ, ê, a…chưa tốt. Tôi đã thống kê chất lượng qua bài đọc. “Quang cảnh làng mạc ngày mùa”, sách giáo khoa; Tiếng Việt 5; tập1; trang10,  ở đầu tháng 9 năm học 2018 – 2019, của học sinh lớp 5/1.

Sĩ số

Đọc nhỏ, ấp úng Đọc ngắt, nghỉ hơi tùy tiện

Đọc to, rõ, lưu loát

Đọc diễn cảm

30

6 10

11

3

Tỉ lệ           20 % 33,3% 36,67%

10%

Như vậy, chất lượng đọc thực tế cho thấy còn thấp, chưa đạt theo chuẩn kiến thức và kỹ năng đọc thành tiếng của Bộ giáo dục và Đào tạo.

Đồ dùng dạy học là phương tiện trực quan chủ yếu trong tiết Tập đọc là ngôn ngữ của giáo viên và bài tập đọc trong sách giáo khoa tranh màu phóng to minh họa và một số vật thật hoặc mô hình để giảng từ và ý chưa được sử dụng thường xuyên.

Để giờ học nhẹ nhàng, đem lại hiệu quả thiết thực (nhất là đối với học sinh có điều kiện còn khó khăn trong học tập), khi dạy cần tập trung vào yêu cầu cơ bản, cần linh hoạt phương pháp dạy tập đọc nhằm đạt hiệu quả thiết thực. Ở lớp 5, học sinh cần đọc đúng và đọc lưu loát (tốc độ đọc thành tiếng ở lớp 5 trong thời điểm học kỳ I:110 tiếng/ phút; khi đọc thầm thì tốc độ sẽ nhanh hơn nhiều). Để đạt được yêu cầu bản thân tôi cần sử dụng linh hoạt các phương pháp, biện pháp và hình thức tổ chức cho học sinh qua các giải pháp cụ thể sau:

  1. Chuẩn bị cho việc đọc.
  2. Luyện đọc đúng (Âm và vần khó).
  3. Luyện đọc lưu loát.
  4. Luyện đọc diễn cảm.

– Nội dung giải pháp sáng kiến:

Trong giờ tập đọc, tôi luôn chú ý rèn học sinh kỹ năng đọc ngày càng thành thạo. Đây là yêu cầu có tính đặc trưng của phân môn Tập đọc. Dạy Tập đọc cho học sinh chính là quá trình làm việc của thầy và trò để thực hiện 2 hình thức: đọc thành tiếng và đọc thầm. Đây chính là “Hai biện pháp dạy đọc”. “Hai hình thức dạy học này gắn bó chặt chẽ với nhau, cộng tác cùng thực hiện để đạt được mục đích cuối cùng của đọc thông qua nội dung văn bản.

Chất lượng đọc thành tiếng gồm 4 phẩm chất: Đọc đúng, đọc nhanh lưu loát, đọc có ý thức (thông hiểu nội dung văn bản) và đọc diễn cảm.

  1. Chuẩn bị cho việc đọc:

Tôi luôn chú ý tới tư thế đọc của học sinh, khi ngồi đọc cần ngay ngắn, khoảng

cách từ sách đến mắt khoảng 30 – 35cm, cổ và đầu thẳng. Khi thầy gọi đọc phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay. Tư thế đứng đọc phải đàng hoàng, thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng 2 tay.

Tôi luôn cho học sinh hiểu khi đọc thành tiếng, các em đọc không phải chỉ cho mình giáo viên nghe mà cho tất cả các bạn trong lớp cùng nghe, nên cần đọc đủ cho tất cả cùng nghe rõ. Nhưng không có nghĩa là đọc to quá hoặc gào lên. Đối với học sinh đọc quá nhỏ “lý nhí”,  tôi kiên nhẫn luyện và động viên các em đọc to dần.

  • Kinh nghiệm rút ra: Mỗi tiết học Tập đọc, thầy và trò đều có chuẩn bị bài tốt trước khi đến lớp, Nhờ vậy, tiết học Tập đọc luôn luôn được các em học tập sinh động hẳn lên. Vì các em có tâm thế trong học tập.
  1. Luyện đọc đúng: (Âm và vần khó)

Đầu năm, tôi đã phân loại để nắm được trình độ đọc của từng học sinh. Từ đó, tôi có kế hoạch rèn đọc cho từng em. Trước khi đến lớp, tôi dự tính các lỗi học sinh có thể mắc lỗi, những từ, những câu khó lần trước chưa đọc tốt để luyện.

Luyện đọc đúng các âm đầu: Việt Nam, kiểm tra, sang giàu, dạt dào…

Đọc đúng các âm khó: Chuyển biến, ốc bươu, lưu luyến…phần này tôi kết hợp luôn trong lúc đọc cá nhân.

Ví dụ: Khi dạy bài “Thư gửi các học sinh”, sách giáo khoa; Tiếng Việt 5; tập1; trang 4.

Học sinh A đọc đoạn 1, 2. Học sinh B nhận xét: Bạn đọc sai “Diệt Nam” sửa lại là “Việt Nam”; “chiển biến” sửa lại là “chuyển biến”; “sau 80 năm gời” sửa lại là “Sau 80 năm giời”…Tôi cho học sinh A đọc lại cho đúng. Sau đó cho 2 đến 3 học sinh nhắc lại. Đọc đúng bao gồm đúng cả tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu. Việc ngắt nghỉ hơi phải phù hợp với dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu ở dấu chấm. Tôi dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp để xác định cách ngắt nhịp đúng các câu. Đối với một bài thơ, đoạn văn, câu văn học sinh đọc cá nhân thành tiếng chưa ngắt nghỉ hơi đúng, tôi cho học sinh khác đứng tại chỗ hoặc lên bảng đánh dấu lại chỗ ngắt, nghỉ hơi và cho cả lớp đọc đồng thanh.

Sau đó, tôi cho cả lớp đọc đồng thanh. Việc đọc đồng thanh trong giờ tập đọc làm cho không khí lớp học vui tươi, phù hợp với lứa tuổi. Tạo điều kiện cho tất cả học sinh

đều tham gia vào đọc thành tiếng. Tùy theo từng bài, tùy theo mức độ đọc của học sinh mà tôi cho học sinh đọc đồng thanh cả bài hay 1 đến 2 câu văn, đoạn văn khó.

  • Kinh nghiệm rút ra: Nhờ giải pháp này, học sinh của lớp 5/1 đọc bài

Tập đọc và đọc các môn khác luôn phát âm đúng các âm và vần khó. Đồng thời, các em biết đọc bài văn ( thơ) ngắt nghỉ hợp lí theo dấu phẩy, dấu chấm.

  1. Luyện đọc lưu loát:

Tôi hướng dẫn học sinh làm chủ tốc độ bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc thầm theo (Tốc độ đọc thành tiếng ở lớp 5 theo chuẩn kiến thức và kỹ năng học kỳ I:110 tiếng/ phút; khi đọc thầm thì tốc độ đọc nhanh hơn nhiều)

Về đọc văn xuôi, tôi hướng dẫn các em nghỉ hơi đúng các câu dài:

Ví dụ: Khi dạy bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa”. Sách giáo khoa, Tiếng Việt 5; tập 1; trang 10.

“Có lẽ bắt đầu từ những đêm sương sa/ thì bóng tối đã hơi cứng/ và sáng ngày ra/ thì trông thấy màu trời /có vàng hơn thường khi.”.

Về văn vần tôi hướng dẫn cho các em ngắt nghỉ hơi đúng, phù hợp với âm điệu, vần nhịp của từng câu trong bài đọc.

Ví dụ: Khi dạy bài “Việt Nam thân yêu”; sách giáo khoa; Tiếng Việt 5; tập 1; trang 5.

Việt Nam /đất nước ta ơi!

Mênh mông biển lúa/ đâu trời đẹp hơn.

Cánh cò bay lã /dập dờn,

Mây mờ/ che đỉnh Trường Sơn/ sớm chiều.

Ngoài ra, tôi còn dùng biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự kiểm tra của giáo viên, của bạn để điều chỉnh tốc độ.

Ví dụ: Khi học sinh đọc cá nhân toàn bài hoặc đọc một khổ thơ, một đoạn văn, Tôi đều nhắc cả lớp đọc thầm theo. Tôi còn gây hứng thú cho học sinh bằng những trò chơi cuối giờ như: Thi đọc tiếp sức, đọc thơ truyền điện…Kết thúc trò chơi bao giờ tôi cũng cho học sinh chọn và tuyên dương nhóm đọc nhanh nhất, giỏi nhất và gợi ý rút kinh nghiệm cho lần chơi sau.

  • Kinh nghiệm rút ra: Giải pháp này, học sinh đọc đạt được tốc độ theo chuẩn kiến thức và kỹ năng phần đọc thành tiếng lớp 5. Ngoài ra, các em đọc lưu loát bài văn (thơ). Từ đó, các em thích học môn tập đọc nhiều hơn
  1. Luyện đọc diễn cảm:

Nội dung của bài đọc đã qui định ngữ điệu của nó nên tôi không bao giờ áp đặt sẵn giọng đọc bài mà để học sinh tự nêu cách đọc và đọc trên cơ sở hiểu từ, hiểu nghĩa. Tôi chỉ là người lắng nghe, sửa cách đọc của từng học sinh. Tôi cũng luôn kích thích, động viên học sinh cố gắng đọc diễn cảm.

Ví dụ: Cứ cuối mỗi giờ tập đọc, tôi lại hỏi học sinh.

+ Em đọc diễn cảm cả bài văn hoặc bài thơ

+ Hoặc tôi tổ chức các hình thức thi đọc diễn cảm, đọc phân vai đối với các bài có nhiều lời thoại.

Vì vậy, trong giờ tập đọc lớp tôi, các em rất thích tham gia đọc diễn cảm. Vì khi đọc diễn cảm, lên giọng, xuống giọng sẽ tạo ra một hiệu quả nghệ thuật cao. Trong từng bài đọc, các em cần có giọng đọc thích hợp.

Ví dụ: Hướng dẫn đọc bài “Người công dân số 1” Tiếng Việt 5; tập 2; trang 4.Đọc đoạn “Từ đầu đến anh có khi nào nghĩ đến đồng bào không?” học sinh đọc thể hiện đúng tâm trạng từng nhân vật.

Lời gọi: Anh Thành (đọc nhấn giọng hồ hở); có lẽ thôi anh ạ. (giọng đọc đềm tỉnh mong được thông cảm ẩn chứa một tâm sự chưa thể nói ra được); sao lại thôi? (nhấn giọng, bày tỏ sự thắc mắc); vậy anh vào sài gòn để làm gì? (giọng đọc ngạc nhiên thắc mắc).

Để đọc diễn cảm hay, tôi luôn đàm thoại cho học sinh hiểu ý đồ tác giả, thảo luận vì sao đọc như vậy. Sử dụng hình thức đọc phân vai. Khi học sinh đọc phân vai tôi thường hỏi: “Đoạn nào trong lời thoại làm em thích nhất? tại sao?”

Những học sinh đọc còn chậm, tôi kiên trì luyện tập thêm, không bỏ qua cũng không đòi hỏi ráo riết. Tôi còn tổ chức theo nhóm nhằm vào các em đọc tốt kèm cặp các em đọc chưa tốt.

Kinh nghiệm rút ra: Nhờ giải pháp đọc diễn cảm này, học sinh của lớp 5/1 đọc diễn cảm tốt. Các em rất thích đọc các bài văn dạng phân vai. Vì các em thích thể hiện giọng đọc diễn cảm qua lời thoại của từng nhân vật.

– Tính mới của sáng kiến:+ Các em đọc vừa đủ cho cả lớp cùng nghe (không gào lớn hoặc đọc lí nhí)+ Bạn A đọc bạn B nhận xét. Từ đó, các em đều luyện đọc đúng âm hoặc vần.

+ Đọc đoạn văn xuôi (thơ)  các em tự biết ngắt nghỉ đúng và hợp lí qua hướng dẫn của

thầy cô.

+ Bạn A đọc cả lớp đều đọc thầm theo để các em tự kiểm tra được tốc độ đọc của bạn và của bản thân.

+  Thi học sinh đọc tiếp sức, đọc thơ truyền miệng để tạo sự thích thú cho học sinh trong luyện đọc.

+ Thi đua đọc diễn cảm để các em thể hiện cảm xúc của từng nhân vật qua nội dung bài đọc.

– Kết quả mang lại:

  1. Với thầy cô giáo:

Tôi tự thấy đã tìm được hướng đúng, cách làm đúng cho việc dạy tập đọc: Dạy đúng đặc trưng bộ môn. Tôi rất hứng thú rèn luyện cho học sinh của mình.

Các tiết dạy Tập đọc của tôi không bị biến thành giờ giảng văn, thầy giảng là chính, trò chỉ ngồi nghe…nặng nề, khô khan nữa.

  1. Với học sinh:

Học sinh lớp không còn ngại ngùng, e dè khi đọc diễn cảm trước lớp hoặc không còn đọc qua loa, nhanh cho xong bài.

Cụ thể ở tuần 19 tôi kiểm tra bài “Người Công dân số 1”, sách giáo khoa; Tiếng Việt 5; tập 2; trang 4. Mỗi học sinh đọc đoạn đối thoại đạt hiệu quả như sau:

 

Thời

điểm

Tổng số

học sinh

Đọc nhỏ, ấp úng, ê, a Đọc ngắt, nghỉ hơi tùy tiện

Đọc to, rõ, lưu loát

Đọc diễn cảm

Đầu tháng

9 – 2018

30

6 10 11

3

Tỉ lệ

          20 % 33,3%

36,67%

10%

Cuối tháng

12 – 2018

30

0

5

15

10

Tỉ lệ

0

     16,6%

50%

33,4%

Số học sinh đọc ê, a không còn nữa, số học sinh đọc đúng, nhanh, lưu loát diễn cảm đã tăng lên rất đáng kể.

– Phạm vi ứng dụng:

Trên đây là kinh nghiệm “nâng cao kỹ năng đọc” có thể được ứng dụng trong phạm vi toàn huyện.

  1. SỐ QUYẾT ĐỊNH: ………./QĐ-HTA, ngày ……….. tháng 4 năm 2019

Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung sáng kiến của bản thân đã đạt được trong năm 2018 – 2019 là trung thực.

Hiếu Thành, ngày 19  tháng 03 năm 2019

NGƯỜI THỰC HIỆN

 

Nguyễn Thanh Đạm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhận xét và đánh giá sáng kiến kinh nghiệm của Hiệu trưởng

Sáng kiến kinh nghiệm của thầy: Nguyễn Thanh Đạm là giáo viên trường Tiểu học Hiếu Thành A năm học 2018 – 2019  được Ban giám khảo thống nhất chấm:……/10điểm.

………………………, ngày …. tháng …….. năm ……..

HIỆU TRƯỞNG

(Ký tên và đóng dấu)

 

 

 

 

 

 

 

Hội đồng xét sáng kiến huyện Vũng Liêm

Sáng kiến kinh nghiệm của thầy: Nguyễn Thanh Đạm là giáo viên trường Tiểu học Hiếu Thành A năm học 2018 – 2019  được Ban giám khảo thống nhất

chấm:……/10 điểm.

Vũng Liêm, ngày       tháng       năm 2019

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

 

 Bài viết, ảnh : Nguyễn Thanh Đạm