Một số biện pháp dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm”

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

– Họ và tên : Lê Văn Sáng
– Sinh ngày 10 tháng 03 năm 1962 Giới tính: Nam
– Quê quán: xã An Trường, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
– Trú quán: ấp Hiếu Xuân Tây, xã Hiếu Thành, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
– Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hiếu Thành A.
– Chức vụ Đảng : Bí thư chi bộ.
– Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân sư phạm Tiểu học.
– Học hàm, học vị, danh hiệu, giải thưởng: Không.
Phương pháp mà sách giáo khoa mới đòi hỏi là phải lấy học sinh làm trung tâm cho mọi hoạt động dạy học, phải dạy học sinh tự phát hiện và làm chủ tiết học quả là rất khó. Một phần là do đa số giáo viên đã quen với cách dạy truyền thống. Phần khác, nếu dạy học theo phương pháp này, tuy lấy học sinh làm trung tâm nhưng không vì thế mà giáo viên được “ nhàn” hơn thậm chí giáo viên phải vất vả hơn vì phải chuẩn bị rất kĩ tại nhà và tới lớp cũng vẫn phải linh hoạt theo học sinh.
Phương pháp dạy học này là một phương pháp dạy học rất hiệu quả. Chính vì vậy, bản thân tôi luôn tâm huyết tìm tòi và nghiên cứu nhằm thực hiện phương pháp dạy học này. Sáng kiến “phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm trong môn toán học lớp 4” này chính là những bài học mà bản thân tôi đã đúc rút qua quá trình dạy học và ứng dụng rất thành công vào công tác giảng dạy thực tiễn. Tôi lựa chọn môn Toán là bởi vì trong những môn học ở trường thì môn Toán luôn được coi là một trong những môn tầm quan trọng của nó đối với cuộc sống. Đây cũng là môn học đòi hỏi sự tư duy và tính sáng tạo. Chính vì thế tôi mạnh dạn chọn sáng kiến kinh nghiệm (Một số biện pháp dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm” Toán lớp 4 dạng nhân với số có 2 chữ số).
– Tên sáng kiến: (Một số biện pháp dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm” Toán lớp 4 dạng nhân với số có 2 chữ số).
Cho dù bất cứ sáng kiến hay cách dạy hay nào, muốn đạt được hiệu quả tốt nhất thì người giáo viên vẫn phải truyền đạt cho học sinh được đầy đủ những nền tảng kiến thức chung về bài học mà sách giáo khoa đòi hỏi cũng như đảm bảo được trình tự các bước lên lớp. Với “phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm” cũng vậy. Về cơ bản, tiết dạy vẫn đi theo trình tự các bước như sau:
Bước 1 : Nêu vấn đề.
Bước 2 : Giải quyết vấn đề : Giới thiệu nội dung bài mới.
Bước 3: Học sinh thực hành : Học sinh vận dụng những kiến thức đã được giới
thiệu ở bước 2 để giải các bài tập ở trong sách giáo khoa, sách bài tập hoặc do giáo viên đề ra. Vậy làm thế nào để giúp các em học sinh khối lớp 4 tự phát hiện và làm chủ tiết học quả là rất khó.? Từ trăn trở đó tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là:
– Nội dung sáng kiến:
Bước 1: Nêu vấn đề.
Trong bước 1 khó khăn mà giáo viên gặp phải khi thực hiện theo mô hình này là khâu “Tổ chức bàn bạc để định hướng giải quyết”. Lý do là vì học sinh chưa quen với phương pháp này. Hơn nữa, lúc này các em chưa có một kiến thức gì về vấn đề mà giáo viên nêu ra.
Để khắc phục khó khăn trên đòi hỏi người giáo viên cần phải sâu sát với trình độ của học sinh, từ đó có những câu hỏi, câu gợi ý phù hợp, hướng dẫn các em sử dụng kiến thức mà các em đã có từ những bài học trước để đưa ra ý kiến. Giáo viên cũng cần lưu ý rằng những ý kiến này nên có tính khái quát mà không cần phải cụ thể và chi tiết. Có thể xảy ra trường hợp học sinh đưa ra một ý kiến sai hoặc thậm chí các em không đưa ra được ý kiến nào. Không sao. Điều đó là bình thường và dễ gặp phải bởi vấn đề mà giáo viên nêu ra trong phần này là kiến thức của bài mới chưa học. Vì vậy, giáo viên cũng không nên sửa ngay. Giáo viên chỉ cần tập hợp lại một số ý, dựa vào ý của các em để định hướng suy nghĩ cho các em. Mục đích của bước này đơn giản chỉ để tạo hứng thú đồng thời hướng các em vào nội dung chính, trọng tâm của bài.
Bước 2 : Giải quyết vấn đề
HOẠT ĐỘNG 1 : Từng học sinh tự nghĩ cách giải quyết
Giáo viên có thể cho học sinh làm việc cá nhân trong khoảng ít phút theo hướng đã định ra trong phần nêu vấn đề, nên yêu cầu các em ghi tắt ý kiến của mình ra một mảnh giấy. Sau đó, để công việc của học sinh hiệu quả hơn, giáo viên có thể cho các em trao đổi theo cặp hoặc theo nhóm.Trong lúc học sinh thảo luận theo nhóm nhỏ này, giáo viên nên đi quanh lớp để quan sát, quản lý đảm bảo tất cả các học sinh đều làm việc, đồng thời đôn đốc, khuyến khích các ý hay hoặc gợi ý và trả lời một số câu hỏi của học sinh.
Để khắc phục vấn đề tốn thời gian vì lí do học sinh không quen, giáo viên có thể
cho học sinh thực hiện hoạt động nhóm thường xuyên trong các buổi học. Điều này sẽ tạo ra một thói quen giúp các em nhanh hơn trong các thao tác như trao đổi, thảo luận, lập nhóm và giúp đỡ lẫn nhau trong khi cùng làm việc trong nhóm. Các nhóm cũng sẽ hoạt động hiệu quả hơn nếu giáo viên có thể sắp xếp chỗ ngồi hợp lý cho các em. Giáo viên cũng nên hướng dẫn cho các nhóm chọn ra một thành viên làm “thư kí” ghi lại toàn bộ các ý kiến của nhóm đã thảo luận và nghĩ ra. Những ý này có thể ghi vào một tờ giấy hoặc tốt hơn là ghi vào một bảng phụ để tiện cho việc trình bày và sửa chữa trước lớp ở bước tiếp theo.
HOẠT ĐỘNG 2 : Thảo luận trước lớp cách giải quyết.
Sau khi các nhóm đã thảo luận xong, giáo viên nên dành thời gian cho ít nhất một hoặc hai học sinh được đứng trước lớp trình bày cách giải quyết của mình hoặc của nhóm mình vì hoạt động này giúp rèn luyện tính tự tin, năng lực trình bày và diễn đạt sự việc cho trẻ. Nếu thời gian hạn chế không cho phép đại diện của tất cả các nhóm trình bày thì giáo viên nên treo bảng phụ của các nhóm này lên bảng. Trong khi các đại diện trình bày, giáo viên yêu cầu cả lớp lắng nghe, sau đó so sánh, trao đổi, thảo luận để nhận xét, bổ sung ý kiến cho bạn và cho mình.
Ở hoạt động này, giáo viên nên yểm trợ về mặt sư phạm. Điều đó có nghĩa là giáo viên nêu lại cho rõ các ý mà học sinh đã nói. Học sinh nói đúng thì giáo viên nêu lại cho rõ cái ý đúng ấy; học sinh nói sai thì giáo viên nêu lại cho rõ cái ý sai ấy để cả lớp hiểu rõ các ý kiến của các “báo cáo viên”. Đây là việc làm hết sức cần thiết vì học sinh thường trình bày các vấn đề một cách lúng túng, lộn xộn, không rõ ràng, mạch lạc. Nếu thiếu sự yểm trợ về mặt sư phạm này thì rất dễ xảy ra trường hợp “không ai hỏi ai nói gì”.Giáo viên tuyệt đối không nên vội khẳng định là ý nào đúng, ý nào sai để khuyến khích học sinh sáng tạo trong trao đổi, thảo luận để tự nhận ra ý sai, ý đúng, ý hay. Nói tóm lại là giáo viên chỉ yểm trợ về mặt sư phạm mà không yểm trợ về mặt khoa học ở hoạt động thảo luận.
HOẠT ĐỘNG 3 : Giáo viên nhận xét, đánh giá.
Đây chính là lúc mà giáo viên đưa ra sự yểm trợ về mặt khoa học cho học sinh. Giáo viên tổng kết thảo luận : nêu lại các cách làm của học sinh; đánh giá đúng, sai, hay, sau đó chốt lại ý quan trọng.(ý này có thể là một trong những ý kiến của học sinh hoặc nếu học sinh chưa đưa ra được thì giáo viên đưa ra ý của mình, trọng tâm của bài học).
Nói chung, khi thực hiện phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm , giáo
viên có thể gặp một số khó khăn nhất định như học sinh không quen, tốn thời gian, khó tổ chức và quản lý. Tuy nhiên, với cách tiến hành như tôi đã trình bày ở trên, các khó khăn này sẽ được khắc phục và phương pháp này chắc chắn phát huy hiệu quả tối ưu.
Bước 3: Học sinh thực hành:
TOÁN 4 – TIẾT 73
DẠY BÀI : NHÂN VỚI SỐ CÓ 2 CHỮ SỐ
+ Bước 1 : NÊU VẤN ĐỀ
a) GV nêu vấn đề : Tính 38 x 24 = ?
– Làm thế nào bây giờ ?
b) HS thảo luận, nói vắn tắt ý của mình…
c) GV dựa vào ý của HS để định hướng suy nghĩ :
– Đây là phép nhân với số có 2 chữ số, ta chưa học.
– Ta mới chỉ học cách nhân với số có một chữ số.
– Vậy phải tìm cách quy về phép nhân với số có một chữ số (hay quy về các phép nhân đã học)
+ Bước 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
Hoạt động 1 :
HS tự nghĩ cách nhân theo hướng nêu trên, ghi tắt vào giấy các ý riêng của mình. Sau đó các em bàn bạc trong nhóm nhỏ.
Trong lúc đó GV đi quanh để giám sát, đôn đốc, khuyến khích các ý hay, trả lời các câu hỏi của học sinh.
Hoạt động 2 :
a) Một số học sinh lên công bố “phát minh” của mình (hoặc nhóm mình) trước cả lớp. Học sinh này được nói và viết tự do trên bảng lớp. Chẳng hạn:
– HS A : + Tách 24 = 8 x 3 => 38 x 24 = 38 x (8 x 3) = (38 x 8) x 3
+ 38 nhân 8 là một phép nhân với số có một chữ số, em đã biết làm
+ 38 x 8 được bao nhiêu nhân tiếp với 3,cũng là nhân với số có một chữ số, em biết làm rồi.
+ Cả lớp hoan hô. GV khen : tuyệt hay, giỏi
– HS B: + Em tách theo phép cộng 24 = 7 + 8 + 9
+ Dùng quy tắc nhân một số với một tổng
38 x 24 = 38 x (7 + 8 + 9 ) = 38 x 7 + 38 x 8 + 38 x 9
+ Đây toàn là phép nhân với số có một chữ số, biết làm rồi.
+ Cả lớp hoan hô. GV khen …
– HS C : + Em dùng phép trừ 38 = 40 – 2
+ Dùng quy tắc nhân một hiệu với một số
38 x 24 = (40 – 2) x 24 = 40 x 24 – 2 x 24
+ 40 x 24 là nhân với số tròn chục : học rồi.
+ 2 x 24 là phép nhân với số có một chữ số, biết làm rồi.
+ Hoan hô… khen …
– HS D : + Em dùng phép cộng theo cách khác : 24 = 10 + 10 + 4
+ Dùng quy tắc nhân một một số với một tổng:
38 x 24 = 38 x (10 + 10 + 4 ) = 38 x 10 + 38 x 10 + 38 x 4
+ Phép nhân với 10 : quá dễ.
+ 38 x 4 là phép nhân với số có một chữ số: đã học.
+ Hoan hô… khen …
– HS E : + Em tách theo phép cộng : 24 = 20 + 4
+ 38 x 24 = 38 x (20 + 4 ) = 38 x 20 + 38 x 4
+ 38 x 20 : có dạng phép nhân với số tròn chục : đã học.
+ 38 x 4 là phép nhân với số có một chữ số: đã học.
+ Khen … Hoan hô…
– HS F : + Em bắt chước cách cộng viết : nhân số chục với số chục, số đơn vị với số đơn vị : 3 x 2 = 6 ; 8 x 4 = 32
+ 38 x 24 = 632
+ Khen … Hoan hô…(mặc dù sai !)
b) Thảo luận về các “phát hiện” đã được công bố :
– Đúng, sai ? – Cách nào gọn hơn, dễ làm hơn ?
– Cách nào dài, khó làm ? – Cách nào quá đặc biệt ?
– ….Chẳng hạn :
– A làm hay nhưng nếu 38 x 17 thì làm sao tách 17 thành tích của 2 số ?
A trả lời : thế thì em tách 38.
Chất vấn : Tách thử coi.
38 = 2 x 19
Vậy 38 x 24 = 2 x 19 x 24 vẫn là nhân với số có hai chữ số.
A thừa nhận là kẹt đường, cách này không dùng được.
– B làm đúng song dài hơn C : ba phép tính dài hơn hai phép tính.
– C làm đúng nhưng không hay bằng E : phép trừ khó làm hơn phép cộng.
Cách làm của D và E cũng giống nhau nhưng D làm dài hơn.
– Cách làm của F sai vì không thể làm tính nhân giống như tính cộng được ( chỉ tính 38 x 20 đã lớn hơn 700 rồi không thể bằng 632 được.)
– Cách làm của E hay nhất.
Hoạt động 3 :
a) GV tổng kết thảo luận để chốt lại cách làm của E sau đó nêu cách tính thực tiễn như trong sách giáo khoa.
b) HS vận dụng giải bài tập.
* Kinh nghiệm rút ra: phải tạo được một không khí học tập thật thoải mái không gò ép thì học sinh mới không thụ động mà ngược lại sẽ chủ động tham gia vào các hoạt động, phát huy được tối đa khả năng và óc sáng tạo của tất cả học sinh.
– Tính mới của sáng kiến :
* Các em học tập hào hứng và hăng say hơn vì hoạt động nhóm giúp giảm bớt căng thẳng đặc biệt là đối với những học sinh không thể tự làm việc một mình.
* Học sinh có thể hỏi giáo viên hoặc bạn bè ngay những điều mà các em không biết, không hiểu. Chính vì thế mà các tiết học đều đạt hiệu quả rất cao, hầu như mọi học sinh đều hiểu bài và vì vậy bước thực hành diễn ra rất tốt.
– Kết quả thực hiện :
Qua thời gian thực nghiệm đã có kết quả rõ rệt. kết quả kiểm tra cuối HKI năm học 2018 – 2019 môn Toán của lớp tôi qua thống kê như sau:
Điểm đầu năm Tổng số Tỉ lệ % Điểm CHK I Tổng số Tỉ lệ %
10-9 05 em 19,2 % 10-9 16 em 61,6 %
8-7 06 em 23,1 % 8-7 05 em 19,2 %
6-5 08 em 30,8 % 6-5 05 em 19,2 %
< 5 07 em 26,9 % < 5 00 em 00 %
Khi thực hiện phương pháp này trong các tiết toán trên lớp, tôi nhận thấy ban đầu đúng là các em còn lúng túng bỡ ngỡ trong các thao tác nhưng qua một vài lần thực hiện và được sự hướng dẫn tận tình của giáo viên, các em đã trở nên quen dần và thậm chí còn tỏ ra rất thích thú vì bản thân các em được trực tiếp tham gia vào bài học.
– Khả năng nhân rộng:
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh trong lớp đã nắm bắt kiến thức nhanh và vận dụng vào làm bài một cách vững vàng. Sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm” Toán lớp 4 dạng nhân với số có 2 chữ số” đã được áp dụng trong huyện.
– Số quyết định: ………./QĐ-HTA, ngày ……….. tháng 4 năm 2019.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung sáng kiến của bản thân đã đạt được trong năm 2018 – 2019 là trung thực.
Hiếu Thành, ngày 19 tháng 03 năm 2019

Người viết

Lê Văn Sáng

Tác giả: Lê Văn Sáng

Nhận xét và đánh giá sáng kiến kinh nghiệm của Hiệu trưởng
Sáng kiến kinh nghiệm của thầy: Lê Văn Sáng là giáo viên trường tiểu học Hiếu Thành A năm học 2018-2019 được Ban giám khảo thống nhất chấm:……/10 điểm.
………………………, ngày …. tháng …….. năm ……..
HIỆU TRƯỞNG
(Ký tên và đóng dấu)

Hội đồng xét sáng kiến huyện Vũng Liêm

Sáng kiến kinh nghiệm của thầy: Lê Văn Sáng là giáo viên trường tiểu học Hiếu Thành A năm học 2018-2019 được Ban giám khảo thống nhất chấm:……/10 điểm.
Vũng Liêm, ngày tháng năm 2019
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN