CHUYÊN ĐỀ: “BÀN TAY NẶN” BỘT KHOA HỌC LỚP 5

CHUYÊN ĐỀ
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC “BÀN TAY NẶN BỘT”
KHOA HỌC LỚP 4,5
I. LÍ DO MỞ CHUYÊN ĐỀ:
– Cũng như các môn học khác, môn khoa học lớp 4,5 có thực hành qua các thí nghiệm để kiểm chứng những nội dung cần khai thác và khám phá. Người giáo viên cần vận dụng những phương pháp mới để giảng dạy nhằm đáp ứng tình hình học tập hiện nay, giúp học sinh có tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học, tập trung nghiên cứu thảo luận để chiếm lĩnh kiến thức ở một số bài học ở môn khoa học lớp 4,5. Từ đó, học sinh rèn luyện được kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết .
Chính vì vậy, tôi chọn chuyên đề “bàn tay nặn bột” để nghiên cứu và triển khai, vận dụng phương pháp này vào dạy học. Góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy môn khoa học 4,5.
II. THỰC TRẠNG:
1.Thuận lợi:
a. Học sinh:
– Các em có ý thức tư giác trong học tập.
– Các em đủ sách giáo khoa vở bài tập, dụng cụ học tập.
– 100% học sinh của lớp học 2 buổi trên ngày.
– Các em tự giác trong học tập, say mê nghiên cứu khoa học.
b. Giáo viên:
– Giáo viên có tinh thần nhiệt quyết, có cái tâm trong giảng dạy.
– Được sự chỉ đạo sâu sắc của lãnh đạo trường.
– Giáo viên có sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tham khảo.
– Vận dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực.
2. Khó khăn:
a. Học sinh:
– Học sinh chưa biết quan sát, thí nghiệm, suy nghĩ, dự đoán kết kết.
b. Giáo viên:
– Giáo viên chưa thuần phục trong các bước dạy quan sát, thí nghiệm qua PP bàn tay nặn bột.
III. BIỆN PHÁP:
1. Chuẩn bị:
a) Giáo viên:
+ Mục tiêu bài học:
+ Phương pháp dạy học.
+ Hình thức tổ chức từng hoạt dạy – học.
+ Dụng cụ quan sát, thí nghiệm
b) Học sinh:
+ Sách giáo khoa, dụng cụ học tập.
2. Các bước thực hiện: Bàn tay nặn bột (5 bước)
Bàn tay nặn bột đề xuất một tiến trình ưu tiên xây dựng tri thức bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận. Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động, hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm, xây dựng tập thể chứ không phải bằng phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuất phát từ sự ghi nhớ thuần tuý.
Các bước Nhiệm vụ của HS Nhiệm vụ của GV
 Bước 1:
Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
– Quan sát, suy nghĩ – GV chủ động đưa ra một tình huống mở có liên quan đến vấn đề khoa học đặt ra.
– Câu hỏi nêu vấn đề đảm bảo ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu…
 Bước 2:
Bộc lộ
quan niệm ban đầu của học sinh

– Bộc lộ quan niệm ban đầu nêu những suy nghĩ từ đó hình thành câu hỏi, giả thuyết. ..bằng nhiều cách nói, viết, vẽ.
Đây là bước quan trọng đặc trưng của PP BTNB
– GV cần: Khuyến khích HS nêu những suy nghĩ …..bằng nhiều cách nói, viết, vẽ.
– GV quan sát nhanh để tìm các hình vẽ khác biệt.
 Bước 3:
Đề xuất
câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm

a. Đề xuất câu hỏi
– Từ các khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu, HS đề xuất câu hỏi liên quan đến nội dung bài học
– GV giúp học sinh đề xuất câu hỏi liên quan đến nội dung bài học
– Kiểm soát lời nói, cấu trúc câu hỏi, chính xác hoá từ vựng của học sinh.
b. Đề xuất phương án thực nghiệm

– Bắt đầu từ những vấn đề khoa học được xác định, HS xây dựng giả thuyết
HS trình bày các ý tưởng của mình, đối chiếu nó với những bạn khác -GV đặt câu hỏi đề nghị HS đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi đó.
– GV ghi lại các cách đề xuất của học sinh (không lặp lại)
– GV nhận xét chung và quyết định tiến hành PP thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn
(Nếu HS chưa đề xuất được GV có thể gợi ý hay đề xuất phương án cụ thể)
(chú ý làm rõ và quan tâm đến sự khác biệt giữa các ý kiến)
 Bước 4:
Tiến hành
thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
HS hình dung có thể kiểm chứng các giả thuyết bằng…
…thí nghiệm (Ưu tiên thí nghiệm trực tiếp trên vật thật)
…quan sát,
…điều tra
…nghiên cứu tài liệu.
– HS sinh ghi chép lại vật liệu thí nghiệm, cách bố trí, và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay hình vẽ). – Nêu rõ yêu cầu, mục đích thí nghiệm sau đó mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm
– GV bao quát và nhắc nhở các nhóm chưa thực hiện, hoặc thực hiện sai…
… tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian tạm đủ mà HS có thể suy nghĩ… khẳng định lại các ý kiến về phương pháp kiểm chứng giả thuyết mà HS đề xuất.- GV không chỉnh sửa cho học sinh
– HS kiểm chứng các giả thuyết của mình bằng một hoặc các phương pháp đã hình dung ở trên (thí nghiệm, quan sát, điều tra, nghiên cứu tài liệu). … tập hợp các điều kiện thí nghiệm nhằm kiểm chứng các ý tưởng nghiên cứu được đề xuất.
Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày … giúp HS phương pháp trình bày các kết quả.
 Bước 5:
Kết luận
và hợp thức hoá kiến thức
HS kiểm tra lại tính hợp lý của các giả thuyết mà mình đưa ra
* Nếu giả thuyết sai: thì quay lại bước 3.
* Nếu giả thuyết đúng:
Thì kết luận và ghi nhận chúng.
… động viên HS và yêu cầu bắt đầu lại tiến trình nghiên cứu.
…giúp HS lựa chọn các lý luận và hình thành kết luận.
– Sau khi thực hiện nghiên cứu, các câu hỏi dần dần được giả quyết, các giải thuyết dần dần được kiểm chứng tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chính xác một cách khoa học. – GV có trách nhiệm tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức bài học.
– GV khắc sâu kiến thức bằng cách đối chiếu biểu tưởng ban đầu
IV. KẾ HOẠCH BÀI HỌC:
Bài Cây con mọc lên từ hạt (Khoa học Lớp 5)
I. Mục tiêu:
– Học sinh mô tả được cấu tạo của hạt.
– Nêu được điều kiện nảy mầm và quá trình phát triển thành cây của hạt
– Học sinh giới thiệu kết quả thực hành gieo hạt đã làm ở nhà.
II. Chuẩn bị:
GV- HS: Vật thật (hạt đậu) để quan sát, thí nghiệm
III. Hoạt động dạy học:
Phần cấu tạo của Hạt (Sử dụng PPBTNB)
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
– Giáo viên đưa ra một vài hạt đậu ngự (loại đậu hạt lớn nhằm mục đích cho học sinh dễ quan sát). Giáo viên đặt câu hỏi nêu vấn đề “Theo các em trong hạt đậu có gì?”.
Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh
Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh: “Bên trong hạt đậu có những gì, em hãy suy nghĩ gì và vẽ vào vở thí nghiệm hình vẽ mô tả bên trong hạt đậu”.
Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm
Đề xuất câu hỏi:
– Nhóm biểu tượng 1: Hình vẽ học của học sinh 1, 5,7,9 đều cho rằng trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ khác.
– Nhóm biểu tượng 2: Hình vẽ của học sinh 2,6,8 đều cho rằng trong hạt đậu có một cây đậu con với đầy đủ các bộ phận.
– Nhóm biểu tượng 3: Hình vẽ của học sinh 3 cho rằng trong hạt đậu có 1 cây đậu con với đầy đủ bộ phận đang nở hoa, ngoài ra còn có nhiều hạt đậu nhỏ khác.

– Nhóm biểu tượng 4: Hình vẽ của học sinh 4 cho rằng hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ đang mọc rễ.
Các câu hỏi được đặt ra là:
– Có phải bên trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ?
– Có phải có một cây đậu con nở hoa bên trong hạt đậu?
– Có phải trong hạt đậu có nhiều hạt đậu nhỏ có rễ?
– Để ý thấy rằng các câu hỏi trên là những nghi vấn từ những điểm khác biệt của các biểu tượng ban đầu nói trên.
Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu:
– Bổ (mở/cắt đôi) hạt đậu ra để quan sát bên trong. (Lưu ý nếu học sinh dùng những từ ngữ như vậy thì giáo viên nên chỉnh lại là TÁCH hạt đậu ra để quan sát chứ không phải BỔ/MỞ/CẮT ĐÔI vì nếu làm như vậy sẽ làm hỏng các bộ phận bên trong và sẽ khó quan sát).
– Xem hình vẽ trong sách giáo khoa.
– Xem tranh vẽ khoa học chụp hình cấu tạo bên trong hạt đậu…
 Tài liệu về cấu tạo hạt đậu

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
– Giáo viên khéo léo nhận xét các ý kiến trên đều có lý nhưng cả lớp sẽ thực hiện phương án tách hạt đậu ra để quan sát tìm hiểu cấu tạo bên trong hạt đậu
Yêu cầu học sinh vẽ lại hình vẽ quan sát và chú thích các bộ phận bên trong của hạt đậu. Nếu học sinh chưa chú thích đúng cho hình vẽ quan sát giáo viên khoan vội chỉnh sửa thuật ngữ.
Sau khi cả lớp thực hiện quan sát vẽ hình, chú thích xong thì giáo viên cho học sinh quan sát thêm một tranh vẽ phóng to cấu tạo bên trong hạt đậu có chú thích ( phóng lên màn hình bằng máy chiếu hoặc treo tranh) hoặc cho học sinh quan sát hình vẽ trong sách giáo khoa nếu có ( phương pháp nghiên cứu tài liệu). Lúc này học sinh sẽ tự điều chỉnh các thuật ngữ khoa học cần chú thích trong hình vẽ mà các em làm chưa đúng
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức
Giáo viên giới thiệu cấu tạo bên trong của hạt đậu với hình vẽ khoa học có sẵn hoặc hình tự vẽ (nếu trường hợp không có tranh vẽ in sẵn). Giáo viên lưu ý học sinh một số chú thích về thuật ngữ khoa học mà các em đã nhầm lẫn hoặc chưa gọi tên đúng theo thuật ngữ khoa học trong quá trình quan sát vẽ tranh.
Để khắc sâu kiến thức cho học sinh, giáo viên quay lại các biểu tượng ban đầu trước khi học kiến thức của học sinh còn lưu câu hỏi trên bảng cùng các câu hỏi nghi vấn ở bước 3 đã đề xuất
Thông qua đó giáo viên khéo léo nhấn mạnh cho học sinh hoạt động thí nghiệm mà học sinh đề xuất (tách hạt đâu ra để quan sát) chính học sinh có thể tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghi vấn đồng thời chỉ cho các em thấy sau quá trình học về cấu tạo bên trong của hạt đậu so với các hình vẽ biểu tượng ban đầu.
V. KẾT LUẬN:
Trên đây là chuyên đề “bàn tay nặn bột”. Chuyên đề giúp các em tìm tòi, khám phá và say mê nghiên cứu khoa học. Ngoài ra giúp các em học sinh thích thú khi học tập môn khoa học nhiều hơn. Chúng tôi đã tham khảo các tài liệu dạy học cũng như rút tỉa từ kinh nghiệm giảng dạy và học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè đồng nghiệp, nhưng chuyên đề của chúng tôi cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến xây dựng của các đồng chí BGH cũng như các bạn bè đồng nghiệp để chuyên đề “bàn tay nặn bột” thực hiện được áp dụng giảng dạy đạt hiệu quả hơn.

Hiệu Trưởng Người thực hiện

Nguyễn Thanh Đạm